Chuyên đề phát thanh kỳ 1, tháng 5/2017
KỲ I: MỘT SỐ QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ QUYỀN SỐNG TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ
Một trong những quyền tự nhiên thiêng liêng nhất của con người là quyền được sống trong an toàn, hòa bình. Theo khoản 2 Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị thì mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt mạng sống một cách tùy tiện.
Ở Việt Nam, ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, trong tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Quyền được sống là quyền tất yếu, vốn có của quyền con người, là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam dưới những góc độ khác nhau.
Quy định pháp luật liên quan đến quyền sống dưới góc độ là quyền được bảo vệ toàn vẹn về tính mạng.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng
Tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Điều 33 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng nêu rõ cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.
Quy định về các tội xâm phạm tính mạng của người khác
Hành vi xâm phạm đến tính mạng - quyền sống của người khác được coi là một trong những hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất và bị pháp luật nghiêm trị. Điều này được thể hiện qua việc Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người tại Chương XIV, ngay sau Chương quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; trong đó quy định 11 tội danh liên quan đến hành vi trực tiếp hay gián tiếp, vô tình hay cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác một cách bất hợp pháp như: Tội giết người (Điều 123); Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125)...
Quy định hạn chế sử dụng và giới hạn áp dụng hình phạt tử hình
Giống như một số quốc gia khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam hiện vẫn duy trì hình phạt tử hình, xuất phát từ yêu cầu khách quan về phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, Nhà nước ta đã và đang chủ trương thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình. Điều này được thể hiện rõ ở chỗ số điều luật có khung hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự 2015 đã giảm đi đáng kể so với Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bên cạnh đó, pháp luật hình sự cũng quy định chặt chẽ về những giới hạn và bảo đảm về thủ tục tố tụng khi áp dụng hình phạt tử hình như không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử…
Quy định pháp luật trong việc bảo đảm các điều kiện tồn tại của con người
Về khía cạnh này, pháp luật Việt Nam đã xác lập các chế định pháp luật khá toàn diện và ngày càng được hoàn thiện. Các đạo luật như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật bình đẳng giới, Luật phòng, chống bạo lực gia đình… là những điển hình về nỗ lực của Việt Nam trong vấn đề này.
Không chỉ dừng lại ở những quy định pháp luật, bằng những hoạt động cụ thể Việt Nam được quốc tế ghi nhận là một trong những quốc gia đi đầu trong xóa đói giảm nghèo. Đây là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người nói chung, quyền dân sự, chính trị nói riêng, quyền được sống cuộc sống bình thường của mỗi con người nói riêng phù hợp với hoàn cảnh đất nước và các Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm đến nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật… Với mỗi nhóm đối tượng, Nhà nước Việt Nam đều có các cơ chế, chính sách ưu tiên cụ thể nhằm bảo vệ, hỗ trợ, tạo cơ hội cho từng nhóm phát triển và hòa nhập với đời sống xã hội.














