QUY HOẠCH - KẾ HOẠCH

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

256 người đã tham gia bình chọn

Dấu ấn qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trải qua hơn 95 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức 13 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội diễn ra trong những điều kiện lịch sử khác nhau, nhưng đều để lại dấu ấn sâu đậm về tư duy chiến lược, đường lối lãnh đạo và bản lĩnh chính trị của Đảng, góp phần quyết định những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. 

Từ khi thành lập Đảng đến thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc

Từ ngày 3 đến 7-2-1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản. Hội nghị nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930 trở thành Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị này mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng; là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Ngay từ Đại hội I (1935), trong bối cảnh phong trào cách mạng còn gặp nhiều khó khăn, Đảng đã khẳng định vai trò lãnh đạo và đường lối đấu tranh đúng đắn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững ngọn cờ cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cao trào đấu tranh mới.

Các Đại hội II (1951) và Đại hội III (1960) tiếp tục ghi dấu những quyết sách mang tính lịch sử. Đại hội II được tổ chức trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu bước trưởng thành lớn mạnh của Đảng; đã quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tăng cường sự lãnh đạo đối với kháng chiến và kiến quốc. Từ đó, củng cố vai trò lãnh đạo toàn diện, tạo nền tảng cho thắng lợi Điện Biên Phủ năm 1954. Đại hội III diễn ra khi đất nước tạm thời chia cắt, lãnh đạo đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, miền Bắc giữ vai trò hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đại hội có tư duy chiến lược đúng đắn, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.

Dấu ấn thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và đổi mới đất nước

Sau ngày đất nước thống nhất, các Đại hội IV (1976) và Đại hội V (1982) tập trung lãnh đạo công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Đại hội IV xác định mục tiêu chung: đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam; khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa cho cả nước trong bối cảnh hòa bình. Trước những khó khăn của thực tiễn, Đại hội V của Đảng đã thể hiện bản lĩnh cách mạng và đặt nền móng cho đổi mới tư duy về phát triển.

Bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử được ghi dấu tại Đại hội VI (1986), mở ra công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Từ đây, Đảng ta từng bước hoàn thiện tư duy lý luận về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển bền vững.

Các Đại hội VII (1991) đến Đại hội XII (2016) tiếp tục khẳng định và phát triển đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; củng cố vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng và mở rộng quan hệ đối ngoại.

Đại hội VIII (1996) định hình con đường phát triển lâu dài của nền kinh tế; đề ra chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Đại hội IX (2001) khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Đại hội X (2006) chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng, gia nhập WTO; đồng thời nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đại hội XI (2011) đã kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội; bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991; nhấn mạnh phát triển bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội.

Đại hội XII (2016) đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII - Dấu mốc khẳng định khát vọng phát triển đất nước

Đại hội XIII của Đảng (2021) là Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy chiến lược của Đảng. Đại hội đã đề ra mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, với khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Niềm tin và kỳ vọng hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Sau 40 năm đổi mới, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia đặt ra ngày càng cao.

Đại hội XIV có ý nghĩa định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất nước trong trung và dài hạn, tiếp tục kế thừa và phát triển tư duy của Đại hội XIII, cụ thể hóa mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, khơi dậy khát vọng xây dựng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Trọng tâm của Đại hội XIV dự kiến sẽ tập trung xác định các đột phá phát triển, trong đó khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khơi thông nguồn lực, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng với đó, Đại hội sẽ tiếp tục nhấn mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; tiếp tục khẳng định phát triển văn hóa, con người và bảo đảm an sinh xã hội là nền tảng bền vững; đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhìn lại dấu ấn qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thêm tự hào, tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Truyền thống vẻ vang, bản lĩnh chính trị kiên cường và tinh thần đổi mới, sáng tạo của Đảng là nền tảng vững chắc để đất nước ta vững bước tiến lên. Với niềm tin son sắt và quyết tâm cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cũng là hướng tới một dấu mốc mới trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội được kỳ vọng sẽ mở ra giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn xa hơn, tư duy mới hơn và quyết tâm chính trị cao hơn, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, đáp ứng niềm tin và kỳ vọng của Nhân dân, vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong thế kỷ XXI.

Các tin khác